Văn Lang - Thời Hồng Bàng
Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia làm 15 bộ
- Văn Lang (Bạch Hạc, Phú Thọ)
- Châu Diên (Sơn Tây)
- Phúc Lộc (Sơn Tây)
- Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
- Vũ Định (Thái Nguyên - Cao bằng)
- Vũ Ninh (Bắc Ninh)
- Lục Hải (Lạng Sơn)
- Ninh Hải (Quảng Ninh)
- Dương Tuyền (Hải Dương)
- Giao Chỉ (Hà Nội - Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
- Cửu Chân (Thanh Hóa)
- Hoài Hoan (Nghệ An)
- Cửu Đức (Hà Tĩnh)
- Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
- Bình Vân (?)
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) đặt tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.
Thời ấy, người Văn Lang lấy vỏ cây làm áo, bện cỏ làm chiếu, lấy nhựa cây làm rượu, lấy bột cây quang lang (cây đao, thân to như cây cọ, có phần ruột chứa bột ăn được) làm cơm; ăn củ mài, củ từ, dùng trùng làm mắm và lấy rễ gừng làm muối. Họ cày bằng dao, phát rừng bằng lửa, nấu cơm nếp trong ống tre và dựng nhà sàn. Họ cắt ngắn tóc để tiện đi rừng. Khi có người qua đời, người trong làng giã cối chày không để báo tin cho xóm giềng. Trai gái kết hôn không dùng trầu cau mà lấy phong muối làm lễ vật. Đời Hùng Vương thứ nhất, người Văn Lang làm nghề chài lưới nhưng thường bị thú dữ làm hại, nên nhà vua dạy dân xăm mình bằng chàm để thú dữ tưởng họ là đồng loại.
Sử cũ cũng chép thuyền của ta ở đằng mũi hay làm hai con mắt để thủy quái ở sông, bể trông thấy mà sợ.
Thông qua những truyền thuyết trong 15 bộ lạc vừa kể trên, bộ lạc Văn Lang mạnh nhất. Bộ lạc này có vị thủ lĩnh tài ba, thu phục được các bộ lạc khác và trở thành thủ lĩnh liên minh các bộ lạc rồi chuyển thành người cầm đầu cả 15 bộ lạc. Vị thủ lĩnh lỗi lạc ấy gọi là Vua Hùng, cha truyền con nối.
Cả nước ấy chia ra 15 bộ. Đứng đầu mỗi bộ là lạc tướng, cũng cha truyền con nối. Dưới bộ là các công xã nông thôn, đứng đầu là Bồ Chính (già làng). Mỗi công xã có một ngôi nhà chung để làm nơi hội họp và sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng.
Nhà nước Văn Lang thời các Vua Hùng tuy còn đơn giản, mới hình thành nhưng đã quy tụ được lòng dân. Tình cảm cộng đồng dần phát triển thành ý thức cộng đồng. Người dân bước đầu nhận ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời hiểu sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thủy lợi, trao đổi sản phẩm và bảo vệ làng bản, đất nước.
Trong thời Hùng Vương có hai truyền thuyết được lưu truyền rộng rãi trong dân gian thể hiện tinh thần này.
Truyền thuyết 1: Phù Đổng Thiên vương
Đời Hùng Vương thứ 6 giặc Ân rất hùng mạnh, dường như không ai địch nổi kéo sang xâm lược nước Văn Lang. Thế giặc mạnh lắm, quan quân không sao chống cự nổi. Nhà vua lo lắng cho mời các quan trong triều để bàn kế phá giặc. Các quan tâu vua xin cho sứ giả đi rao tìm người tài giỏi ra giúp nước. Vua nghe theo kế ấy. Lúc bấy giờ ở làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh có một nhà giàu, 62 tuổi mới sinh được một con trai lên 3 mà vẫn chưa biết nói. Cậu bé suốt 3 năm nằm ngửa không tự ngồi hay đứng được. Khi sứ giả đến làng rao cầu hiền, cậu bé thốt nhiên nói được và xin với cha cho mời sứ giả nhà vua vào hỏi chuyện. Khi sứ giả đến, cậu bé xin sứ giả về tâu vua đúc cho cậu một con ngựa sắt, một thanh gươm, một cái nón sắt rồi cậu sẽ ra quân dẹp giặc. Từ khi sứ giả về tâu nhà vua, cậu bé mỗi ngày một lớn, ăn khỏe lạ thường. Ngày tháng qua, cậu lớn phổng lên đến nỗi phải làm nhà riêng để ở. Khi giặc Ân kéo đến núi Châu Sơn (Tiên Du, Bắc Ninh) thì sứ giả đem kiếm, ngựa đến cho cậu. Cậu vươn vai đứng dậy rồi nhảy lên ngựa vung roi. Ngựa chạy đến đâu, miệng phun ra lửa đến đó. Trên mình ngựa, cậu xông vào đội ngũ giặc, sải kiếm chém giặc như chém chuối. Kiếm gãy, cậu nhổ cả cụm tre mà đánh. Không đương nổi sức mạnh thần thông của chàng trai Phù Đổng, quân giặc còn lại quỳ gối xin hàng. Phá được giặc Ân rồi, người anh hùng làng Phù Đổng đi đến núi Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, truy tặng lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau được phong là Xung Thiên Thần Vương. Hằng năm đến mùng 8 tháng tư, làng Phù Đổng (còn gọi là làng Gióng) mở hội vui lớn, tục gọi là hội Gióng.
Truyền thuyết 2: Sơn Tinh Thủy Tinh
Vua Hùng thứ 18 có một người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần, Mỵ Nương được vua cha thương yêu rất mực. Nhà vua muốn kén cho nàng một người chồng xứng đáng. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều muốn hỏi nàng làm vợ. Sơn Tinh là người ở núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường. Chàng chỉ tay về phía Đông, phía Đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía Tây, phía Tây mọc lên hàng dãy núi. Còn Thủy Tinh ở mãi tận biển Đông cũng tài giỏi không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Một người là chúa của miền non cao, còn người kia là chúa của vùng nước thẳm, đều xứng đáng làm rể vua Hùng. Vua Hùng băn khoăn không biết nhận lời ai, bèn phán rằng: Hai người đều vừa ý ta cả nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho ai? Vậy, ngày mai, nếu ai dâng lễ cưới đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao thì được rước dâu về. Sớm hôm sau Sơn Tinh đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau không lấy được Mỵ Nương, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hồi thì đuổi kịp Mỵ Nương. Thủy Tinh còn hô mưa gọi gió làm thành dông, bão, sấm sét, rung chuyển trời đất, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng, ngập cả nhà cửa. Sơn Tinh không hề nao núng dùng phép bốc từng quả đồi từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi núi mọc lên cao bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống, Thủy Tinh cuối cùng phải chịu thua rút quân về. Từ đó Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau. Không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh, gây ra nạn lụt lội khắp vùng đồng bằng và trung du nước ta. Nhưng lần nào Thủy Tinh cũng phải chịu thua. Câu chuyện này phản ánh một thực tế, hàng năm vào tháng Sáu và tháng Bảy, Bắc Bộ bị lũ lụt, nước tràn vào đồng áng, tàn phá mùa màng, khiến nhân dân phải đắp đê ngăn lũ vô cùng vất vả.